Chim trong phố

0

Đêm.
Lũ chuột trơ trẽn khiêu vũ trong leo lét xó vắng.
Đêm.
Loài sâu gian manh tách kén biến hình.
Và cũng giữa đêm tôi nghe tiếng đồng quê nghẹn ngào phố vắng.
Con cu gáy nhà bên nức nở xuân thì.
Chim trong phố.
Chao ơi là buồn!

Giá kể mỗi sớm mai, con cu gáy nhà bên kookruk…krukroo…kookruk… trên ngọn xoan quê mùa tuổi thơ tôi bóng mát. Chạnh lòng nhớ về thời trẻ trâu, bọn chim muông huyên náo những giấc mơ đổ lửa thiếu thời.
Chao ơi là vắng!
 
Tiếng chim trong phố, tiếng chim trong lồng, tiếng chim trong đêm và những tiếng chim khắc khoải trong lòng tôi nữa, trái đất đang quay ngược lại mất rồi.
Chao ơi là hoang mang!
 
Chim cu gáy sống từng đôi, một trống một mái theo chế độ đơn thê, gắn bó chung thủy, cu gáy là giống kén bạn tình, con trống có dáng hình đẹp, có tiếng gáy tốt là con chim lãnh chúa. Vậy chắc hẳn những con cu gáy được tuyển lựa vào lồng đều là thúc bổi là thổ đồng là lãnh chúa rồi.
Chao ơi là thúc bổi thổ đồng lãnh chúa !
Đôi chim cu. Tranh của Lê Phổ

Mê mệt thay ký ức, mỏi mòn thay nhớ nhung, chậm rãi từng hồi con cu gáy nhà bên, con cu gáy trong phố, con cu gáy trong đêm, con cu gáy trong lồng, con cu gáy trầm đục những tiếng sầu canh vắng.
 
Nó đòi bình minh, nó đòi trưa vắng, nó đòi xế chiều, nó đòi những ngọn xoan quê mùa tháng ba bung tím, nó đòi thúc bổi, nó đòi thổ đồng, nó đòi lãnh chúa.
Chao ơi là chim.
Than ôi!
Thà là chuột trơ trẽn, thà là sâu gian manh  thà là vất vưởng, thâm sâu, thủ đoạn ngõ hẻm hang cùng.
Đừng là chim trong phố.
Tôi lặng trôi vào đêm.
Ai âm thầm gieo hạt.
Ai thanh thiên nảy chồi.
Ai bóng tối muôn đời thấp thỏm phập phồng, bạch nhật bình minh…
Tôi leo lét.
Tôi xó vắng.
Tôi tách kén biến hình.
Tôi đổ lửa.
Chao ơi là tôi…
 

Mường Lống – Hồn về từ muôn trùng

Tôi lên Mường Lống đã lâu lắm rồi, lâu như tiếng thở dài con trâu đẩy dốc, lâu như tiếng u ơ của rừng ngày đi lạc. Từ đâu và từ đâu, Mường Lống – Hồn về từ muôn trùng.

Tôi biết đến Mường Lống từ khi những bạt ngàn hoa mơ hoa mận hoa đào thế chỗ cho những sắc tím xanh tím quái ma mị liêu trai của mùa anh túc sung mãn nhựa, keo quánh vùng cao. Mường Lống từ đó không còn ẩn dật sau những làn khói nuông chiều phả vào hư vô những điều phiền muộn.

Puxailaileng hùng vĩ bốn mùa, ngất ngư bốn mùa, xa như một mũi tên bắn đi không trở về, gần như một tiếng hú trâu giục bò mỗi chiều văng vẳng Mường Lống, đâm xuyên vào rừng sâu như tiếng mõ của thầy mo mỗi lần hỏi trời, hỏi con ma rừng. Và bao người biết, tôi biết Mường Lống thân thương như một nhịp Còn cô gái Mông e ấp, nụ cười chàng trai Mông khỏa lấp. Nỗi buồn đi qua, niềm vui ở lại, tương lai như một chiếc khăn voan khổng lồ buông xuống lũng sâu rồi trườn lên đồi cao dịu dàng tháng ngày Mường Lống, thảo thơm tiếng chày nện bánh, nheo mày nhíu mắt ưng bụng người Mông.

Cái tên Cổng trời Mường Lống đã một thời gọi tôi gói ghém hành trang, giục tôi lên đường, vắt chân lên đồi, quơ tay vào núi, miên man mắt nhìn cổng trời, tim đập vựa mây, hồn gửi gắm khói sương miền tây xứ Nghệ.

Ảnh: Sách Nguyễn

Hơn 0 giờ, tôi cho xe chạy tà tà trên những đường phố quen thuộc, những làn mây ẩm ướt trên bầu trời như sà xuống thấp hơn bê bết vào những thứ mùi ẩm thực đường khuya, nào là xôi gà, nào súp cua, nào miến lươn, nào chim câu tần…Bấy nhiêu món ngon ở con đường Đồ Chiểu thành phố Vũng Tàu cũng đủ thức dậy những thăng trầm cảm xúc.

Người dân Vũng Tàu vốn nghỉ sớm, nhưng riêng mấy con phố quanh khu vực này thường chống mắt thâu đêm. Quán ăn bắt đầu nhộn nhịp từ sau 0 giờ, đám nam thanh nữ tú đi chơi về, đám nhân viên vũ trường quan bar, cả những người Tây hiếu kỳ muốn hạnh ngộ những con đường thơm bóng tối. Thường vì thế mà cỡ ba rưỡi bốn giờ quán xá mới rục rịch tắt bếp ủ đèn.

Rẽ vào đầu đường Đồ Chiểu cơ man mùi như muốn dìu dắt con người ta đến cái đói đến cái khát một cách vồ vập đáng thương. Mùi phở bò dậy từ ngả rẽ vào giữa phố, bao trùm lên phố, bưng bít lấy phố như một cuộc sắm sanh ăn no, say nê quốc túy quốc hồn. Chiếc xe hổn hển ép côn, nó ồng ộc rú một hơi dài tăng áp rồi dừng lại dưới ánh đèn vàng chảnh choang hắt ra từ cửa quán miến lươn quen thuộc. Đi bao nhiêu phố, ở bao nhiêu vắng, sống bao nhiêu ngày món ngon thuần Việt, ấy vậy mà cái mùi vị món lươn xứ Nghệ chưa một lần lạc lối trong tôi.

Ngã tư Đồ Chiểu và Lê Lai thành phố Vũng Tàu vào đêm

Thấy bóng dáng tôi Hải đã lao ra như một con sóc chuyền cành nhanh lẹ Mường Lống đường rừng năm nào.

Trời ơi anh Huy, lâu lắm rồi… Ẻn ơi anh Huy ghé này.

Có người thân như tôi đến Hải mới gọi tên cúng cơm của vợ. Tên vợ Hải là Ẻn, một cô gái Mông xinh xắn như đóa hoa mận Mường Lống đầu mùa, sau này cưới xong đưa vợ đi phiêu bạt góc bể chân trời Hải gọi vợ là Mây. Hải là trai phố Vinh, một lần đưa tôi đi rừng tình cờ phải lòng bông mận đầu mùa đơm khuy.

Ẻn bước ra áo quần thành phố nhưng không giấu nổi nụ cười e ấp Mường Lống, đôi chân thoi đưa những đêm khèn người Mông và đôi tay líu ríu mấy bận đàn môi.

Đồ mồi bày biện. Rượu thêm lời chào. Chu cha cái thứ rượu quê men mùa cất từ Mường Lống, cái vị ngô tươm tất quán xuyến vừa uống vừa gật, vừa say vừa gù. Tôi xuýt xoa như sống lại những ngày trên rẻo cao. Món lươn thành Vinh gộp chung với thứ rượu ngô bén nồi cứ làm máu tôi tụ vạ bảo ban lũ hồng cầu nhảy nhót. Tình như mấy bận xuân về Mường Lống, say như mấy nả hạ đổ Mường Lống, thương như mấy khoảnh thu ngưng chập choạng cánh đồng vùng cao.

Cháo lươn đã là đặc sản nức tiếng của phố Vinh, nhưng miến lươn cũng đang dần tôn vinh thứ sản vật ruộng đồng xứ Nghệ này. Trong danh sách 15 món ngon vừa được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam lập đề cử lập kỷ lục châu Á, thì miến lươn xứ Nghệ hiện diện như một quốc hồn. Bởi vậy ngồi giữa lòng thành phố Vũng Tàu người ta xì xụp, người ta ứa nước mắt chan nước mũi để trôi chảy vào gan ruột thứ sản vật thành Vinh cũng là lẽ thường tình, đâu có gì lạc loài khó hiểu.

Ẻn vốn kiệm lời. Trong hơi cay từ đĩa lươn xào xênh xang ớt, trong hơi say từ ly rượu khuya gửi gắm cố hương, đôi mắt người đàn bà Mông như ánh cầu vồng bươn bả những nụ buồn xuống thung sâu dịu ngọt. Ngước mặt lên trong trong khóe mắt cô nhìn tôi thủng thẳng:

Anh Huy này, mai mốt có rảnh anh đưa Ẻn về Mường Lống được không? Ẻn nhớ bản quá…

Tôi thoáng bối rối, lóng ngóng như người thầy mo tay run run khua khua con gà mà cúng trước cây nêu ngày tết. Nhưng rồi dạn dĩ bôn ba ném tôi trở lại bằng một câu dửng dưng đủ lý thiếu tình:

Ơ hay cái cô này, tấm bé lắm hay sao, hồn cô cô giữ, hồn tôi tôi giữ Mường Lống ai chỉ đường ai? Nói xong tôi chạnh lòng xéo mắt nhìn thằng em. Hải đặt ly rượu xuống chực đưa tay lên gãi đầu nhưng thoáng chốc lại cầm ly rượu lên ngửa cổ ực một nhịp ngọt ngào. Buông ly đánh cạch một tiếng giữa bàn rồi khà lên một hơi man dại…

Khuya về bấm vào khoảng không gian ẩm ướt ngoài kia những giọt thanh vắng. Ồn ào khách đến, xì xụp khách đi. Mùi phấn son vũ trường quán bar ngưng tụ, mùi khét ngọt của những điếu xì gà cháy dở găm vào mái tóc, hỗn độn tiếng nhạc mê cuồng còn lả lơi trên tay áo mấy cô nàng xuân xanh. Cả những anh chàng Tây mắt xanh đắm đuối những tô miến lươn lặn ngụp cay nồng.

Cả ba chúng tôi như nhập đồng trong mê mải men ngô, trong thứ hành ngò ớt xanh ớt đỏ, trong vị béo ngậy của những con lươn lặn lội nơi ruộng nơi đồng. Hình như nhớ thương là lúc để con người ta thắp sáng những ngả lòng tăm tối. Phải chăng yêu thương là lúc thúc giục những mưu toan lắng xuống đời thường. Và cơ hồ trái tim luôn phải run rẩy trước manh nha tiếng gọi quê hương.

Những cô gái Mông ở Mường Lống. Ảnh: Nguyễn Sách

Tôi lại nhớ ngày lên Mường Lống khi mắt chắn bởi núi, khi lòng mờ bởi mây, chỉ có tiếng gọi của chính tôi dội vào vách mà quay trở lại. À thì ra chỉ có tiếng gọi từ lòng mình, âm thanh của chính mình sẽ không bao giờ bỏ mình mà đi. Cũng giống như rừng có dài mấy đường dao đi, khe có khẳm mấy đường trâu về, con dao găm mình, con trâu dắt tay chẳng bao giờ bỏ rừng quên thung.

Đêm như hối thúc một điệu khèn. Đêm như mê man than hồng củi lửa. Đêm như đáy mắt sâu bùa nhau. Đêm như đinh đóng cột trên những mái kèo Mường Lống. Đêm như con ma nhà đi hoang ba ngày tết. Và đêm bảo dạ bảo bụng những cái vẫy tay chào.

Ba chúng tôi chẳng ai nói với ai một lời. Rượu ai người nấy uống. Hồn ai người nấy giữ. Tình ai người nấy cầm. Mường Lống ai chỉ đường ai. Chỉ có đêm xe duyên những đoạn lòng chùng, chỉ có đêm chọc thủng những bầu nhớ nhung, chỉ có đêm xe chỉ luồn kim những manh áo gấm hoa đã bừng lên bao mùa trên cao nguyên Mường Lống. Có đôi khi tôi ước thà là con bò vạm vỡ ngày hội. Có đôi khi tôi thà ước là con gà quanh quẩn nhặt thóc vườn thênh vườn thang. Có đôi khi làm một điệu khèn người Mông đập vào vách đá, quay về vách núi mà tháng ngày cặm cụi yêu thương. Một khuy áo xinh. Một ly rượu ngô nồng. Mường Lống – Hồn về từ muôn trùng…

 

Thiên đường nơi địa ngục trần gian

Đêm trăng Côn Đảo. Ảnh: TienThinh Cong

Nó kia rồi. Lệch sang bên phải mũi tàu khoảng 5 độ tôi nhận ra tín hiệu ánh sáng trắng chớp nhóm 2 với chu kỳ 10 giây của hải đăng Bảy Cạnh, một ngọn đèn biển cổ nhất Việt Nam. Ấy là Côn Đảo, thiên đường nơi địa ngục trần gian. 

25 hải lý nữa tàu chúng tôi sẽ đến tọa độ neo thuộc vùng nước Côn Đảo để dừng lại khắc phục sự cố máy chính khi hải trình từ Jakarta đến Bắc Hải. Trong cái rủi lại có sự may mắn tình cờ, tôi được đặt chân lên quần đảo mà bấy lâu chỉ biết tỏ lòng ngưỡng vọng.

5 giờ 15 phút sáng, những ánh hồng quang thổi phồng mặt biển, mùa hè du dương trên những bụi sóng xõa xô ngoài bờ cát rồi theo chim muông thênh thang hương rừng Côn Đảo. Quả thực Côn Đảo là nơi mỗi một con người nên đến một lần trong đời.

Liệu có tồn tại một thiên đường nơi địa ngục trần gian? Xưa kia Côn Đảo là địa ngục, còn ngày nay nó là một thiên đường nghỉ dưỡng, chưa kể Côn Đảo là niềm tự hào dân tộc về những người tù cộng sản trung kiên mà vẻ vang là tượng đài liệt nữ Võ Thị Sáu đã tạc vào thế kỷ, mai sau, mai sau.

Lịch sử và vị trí địa lý

Côn Đảo là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Côn Đảo hay Côn Sơn cũng hay dùng cho tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Sử Việt trước thế kỷ 20 thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn hoặc Côn Nôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor.
Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Côn Đảo có cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′).
Quần đảo Côn Đảo gồm 16 hòn đảo với tổng diện tích 76 km².
Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai từ chữ “Pulau Kundur” nghĩa là “Hòn Bí”. Người Âu Châu phiên âm là “Poulo Condor”. Sử Việt thì gọi là “Đảo Côn Lôn” có thể cũng từ “Kundur” mà ra. Riêng tên tiếng Miên của đảo là “Koh Tralach”.

Địa ngục trần gian

Trong hơn 100 năm, khoảng 20.000 người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã bị giam cầm, hy sinh tại “địa ngục trần gian” Côn Đảo, nơi cả thế giới bàng hoàng khi sự thật được phơi bày.

Ngày 1/2/1862, Thống đốc Bonard ở Nam Kỳ ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo – “địa ngục trần gian. Đây là một hệ thống nhà tù với nhiều khu vực biệt giam, chuồng cọp. Trại Bagne 1 (sau đó được đổi thành trại 1, trại Cộng Hòa, trại 2, trại Phú Hải) rộng hơn 12.000 m2 gồm 10 khám lớn (phòng giam lớn), 20 hầm đá biệt giam, 1 khám đặc biệt, hầm xay lúa và khu đập đá.

Cùng với nhà tù Phú Quốc, đây là một trong những địa điểm giam giữ các chiến sĩ cộng sản. Tại mỗi phòng giam, lúc cao điểm có đến hàng trăm người bị gông cùm, xiềng xích. Cai ngục thực dân dùng nhiều hình thức tra tấn từ thể xác đến tinh thần đối với các chiến sĩ.

Nhiều sĩ phu yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh… cho đến những nhà cách mạng nổi tiếng như Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng… từng bị giam giữ nơi đây.

Võ Thị Sáu và những giây phút cuối đời của nữ anh hùng huyền thoại

Theo lời đại tá Lê Văn Thiện kể lại, trong thời gian bị giam cầm ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo, ông bị giam chung phòng với một tù nhân tên là Tám Vàng 70 tuổi, quê ở Trà Vinh, bị thực dân Pháp kết án chung thân, tù khổ sai, lưu đày biệt xứ. Dù gọi là tù thường án, nhưng ông Tám Vàng vốn là một tay lưu manh, anh chị có tiếng và đã ở tù hơn 40 năm ở Côn Đảo. Sau này được các chiến sĩ cách mạng giác ngộ nên ông Tám Vàng từng bước thay đổi nhận thức, chọn cách sống có ý nghĩa.

Nhìn cung cách, lối sống của bạn tù, ông Tám Vàng tin tưởng đem các sự kiện xảy ra trong ngày nữ anh hùng Võ Thị Sáu bị xử bắn (23/1/1952) kể lại cho ông Lê Văn Thiện.
Đây là đoạn ông Tám Vàng kể lại phút cuối cùng của chị Võ Thị Sáu trong cuốn “Tình đất đỏ”: “Khoảng 4 giờ sáng ngày 23/1/1952, giữa mùa gió chướng, những cơn sóng dữ ào ào đập vào bờ, bầu trời u ám, có tiếng hô vang lên từ các trại giam vọng lại: “Phản đối xử bắn Võ Thị Sáu. Phản đối! Phản đối! Đả đảo thực dân Pháp”. Tên chúa đảo và thuộc hạ hoảng hốt liền ra lệnh khóa chặt cửa các chuồng giam.

Chúng trói chị Sáu vào gốc bàng, hướng về nghĩa địa Hàng Dương. Chúng lấy khăn bịt mắt nhưng chị Sáu phản đối không cho bịt. Chị vẫn tự nhiên, hiên ngang ca hát, mắt sáng rực, nhìn thẳng vào bọn lính sắp bắn hát bài “Chiến sĩ Việt Nam”, “Lên Đàng”… Tên lính lê dương cách chị Sáu 15m, khi bắn chị không chết, vẫn hát, đôi mắt nhìn thẳng vào bọn lính bắn chị. Bọn lính run sợ không dám bắn tiếp. Tên chúa đảo chạy đến, hò hét bọn lính bắn tiếp…”

Cũng theo lời kể của nhân vật Tám Vàng, khi ông cởi dây trói cho chị Võ Thị Sáu thì mắt chị vẫn mở, cơ thể còn ấm nóng. Chính tay ông đã vuốt mắt cho chị. Và cũng vì nể phục chị Võ Thị Sáu nên thay vì lấp đất chôn xác, ông Tám Vàng đã bí mật tìm 4 tấm ván làm hòm dã chiến, chọn nơi an nghỉ cuối cùng và lập bia mộ bằng cột xi măng cho nữ chiến sĩ trinh sát Đội Công an xung phong Đất Đỏ – Võ Thị Sáu.

Nhà văn Nguyễn Hồng Thái cho biết, có lẽ vì sự anh hùng, gan dạ, không khuất phục trước kẻ thù nên sau khi hi sinh, Võ Thị Sáu được nhiều người cho là “thần thánh” linh thiêng. Chính điều này đã khiến tất cả công chức, giám thị, binh lính của chế độ cũ cùng gia đình khi bị phân công ra đảo nhận nhiệm vụ hoặc sinh sống đều đến mộ thắp nhang cho “Cô Sáu”. Thậm chí, trong gia đình họ còn thờ “Cô Sáu”…

Đến Côn Đảo không thể không ghé thăm mộ cô Sáu, thậm chí, cô Sáu đã trở thành lý do khiến hòn đảo xa xôi này trở nên gần gũi hơn với đất liền…

Nơi ấy là thiên đường

Thời gian từ ra tết đến hết mùa hè, từ tháng 3 đến hết tháng 9 là thời gian tốt nhất để đi du lịch Côn Đảo. Tuy nhiên, từ tháng 10 đến tháng 2, mặc dù vùng biển Côn Đảo thường có sóng lớn nhưng vì thời gian này là mùa khô nên luôn có ánh nắng chan hòa và cũng là thời gian đáng để đến Côn Đảo . 

Tháng 3 đến hết tháng 9 là thời gian biển êm, dù là mùa mưa nhưng các trận mưa ở Côn Đảo chủ yếu là mưa rào kéo dài không quá 1h đồng hồ, các thời gian khác trong ngày vẫn có ánh nắng chan hòa. Thời gian này thích hợp cho các tour tham quan trên biển, lặn ngắm san hô và khám phá đảo hoang. Đây cũng là mùa rùa từ khắp nơi về Côn Đảo đẻ trứng. 

Tháng 10 đến hết tháng 2, do ảnh hưởng gió Đông Bắc, vùng biển của Vịnh Côn Sơn thường có sóng lớn nhưng mặt ở phía Tây và Tây Nam mặt biển vẫn ềm đềm và ít chịu tác động của sóng gió. 

Côn Đảo bao gồm các tiểu đảo khác nhau như hòn Bảy Cạnh, hòn Tài, hòn Tre, hòn Trứng, hòn Trác hay hòn Cau… là nơi hội tụ các dải san hô với mật độ cao bậc nhất Việt Nam, nơi lý tưởng để khám phá thế giới đại dương kỳ thú. Tại những địa điểm lặn đã được thăm dò trước, du khách sẽ được hướng dẫn các thao tác cơ bản và lặn cùng với chính người hướng dẫn.

Câu cá biển Đông

Vùng biển Côn Đảo nằm trong biển Đông rất dồi dào các loại hải sản, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thú vị đối với các câu thủ. Sau đó bạn có thể tân hưởng chiến lợi phẩm của mình và vừa có thể tận hưởng không gian yên bình của biển xanh cát trắng với bạn đồng hành hay người thân. Đặc biệt, một số du khách tự thử thách lòng can đảm với thú câu cá mập. Địa điểm lý tưởng nhất chính là bãi Nhát, nằm trên đỉnh Tình Yêu nổi tiếng của Côn Đảo. Theo lời những “chuyên gia” câu cá mập là dân đảo cho biết, thời điểm đi câu cá mập thích hợp nhất là khi màn đêm buông xuống, còn cá to hay nhỏ, nhiều hay ít còn phụ thuộc và thời tiết và con nước.

Khám phá đảo hoang

Vịnh Côn Sơn bao gồm hệ thống 14 hòn đảo nhỏ to khác nhau với chuỗi hòn Tài, hòn Trác, hòn Thỏ, … quây quần như một đại gia đình và hòn Bảy Cạnh, Bông Lan, hòn Cau, hòn Trứng, hòn Tre… hùng vĩ giữa khơi xa, là những hòn đảo tạo nên vẻ đẹp thơ mộng cho Vịnh Côn Sơn và là khu bảo tồn sinh thái biển với các rạn san hô ít có nơi nào có thể sánh được về mật độ và chủng loại.

Xem rùa đẻ trứng

Du lịch Côn Đảo, bạn có thể trải nghiệm một đêm lặng lẽ nhưng vô cùng quyến rũ trên hòn Bảy Cạnh. Bạn sẽ được tận mắt chứng kiến những con rùa biển Chelonia mydas mà dân gian hay gọi rùa xanh hay vích… làm ổ và đẻ trứng bên bờ biển. 

Lặn biển ở Côn Đảo

Hòn Bảy Cạnh

Hòn Bảy Cạnh nằm ở phía Đông Côn Đảo, có diện tích 683ha, gồm hai phần đảo nối liền với nhau bằng doi cát ở giữa gọi là Bãi Cát Lớn. Đây cũng là 1 trong 14 bãi đẻ trứng của rùa biển Côn Đảo và là bãi biển có số lượng rùa lên đẻ trứng nhiều nhất ở Côn Đảo. Trong mùa sinh sản (từ tháng 4 – 9 hàng năm), đêm ít nhất 1 – 2 cá thể, đêm nhiều có từ 20 – 30 cá thể rùa mẹ lên bãi làm tổ và đẻ trứng.

Bãi Đầm Trầu

Được xem là bãi biển đẹp nhất Côn Đảo, bãi Đầm Trầu cách sân bay Cỏ Ống 12 km về phía Tây Bắc. Từ trung tâm thị trấn Côn Đảo, nếu đi xe máy hay ô tô bạn sẽ mất khoảng 30 phút là đến bãi Đầm Trầu. Nơi đây nổi tiếng với bờ cát trắng xốp mịn trải dài, rừng nguyên sinh với cây cối xanh tươi và những vách đá cheo leo với tạo hình độc đáo. Đến bãi Đầm Trầu, du khách có thể thoải mái tắm biển, thưởng ngoạn cảnh đẹp hay lặn ngắm san hô.

Bãi Suối Nóng

Bãi Suối Nóng là một bãi biển tuyệt đẹp ở Côn Đảo. Từ bãi Đầm Trầu, du khách có thể vượt một đoạn ngắn đường rừng để đến được bãi Suối Nóng. Nơi đây vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ và ít người biết đến với bãi cát trắng phẳng lì và một hệ sinh thái rừng ngập mặn hiếm có ở các hòn đảo khác.

Vườn quốc gia Côn Đảo

Vườn Quốc gia Côn Đảo có diện tích gần 6.000ha trên cạn và 14.000ha vùng nước. Mối liên hệ của rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn đã tạo nên một môi trường thuận lợi cho việc sinh sản, ươm giống và bảo tồn các loài sinh vật biển.

Hiện nay, Côn Đảo là vùng có nhiều rùa biển nhất ở Việt Nam, với hai loài thường gặp là đồi mồi và tráng đông. Có 17 bãi cát được ghi nhận là bãi đẻ của rùa, trong đó có đến 4 bãi được ghi nhận là có 1.000 rùa mẹ lên đẻ hàng năm.

Đến đây, bạn sẽ được trải nghiệm nhiều hoạt động thú vị với đa dạng các loại hình như câu cá, lặn, xe đạp, đi bộ hay ngắm cảnh thiên nhiên.

Côn Đảo mùa rùa đẻ

Miếu Bà Phi Yến

Miếu bà Phi Yến hay còn được gọi là An Sơn Miếu, là một ngôi miếu cổ được xây từ năm 1785, (sau đó được xây dựng lại vào năm 1958) để thờ bà Phi Yến, vợ thứ của vua Nguyễn Ánh. Ngôi miếu này rất linh thiêng đối với những người dân trên đảo và nó gắn liền với một câu chuyện bi thương của người phụ nữ tài sắc, giàu lòng yêu nước. Sau khi bà mất, nhân dân trên đảo vô cùng thương tiếc bà và đã lập nên ngôi miếu to, đẹp để thờ. Năm 1861, Pháp sau khi chiếm đảo đã quyết định di toàn bộ dân vào đất liền để xây nhà tù. Ngôi miếu bị đổ nát dần. Năm 1958, nhân dân trên đảo đã xây dựng lại ngôi miếu trên nền cũ.

Vịnh Đầm Tre

Nằm ở phía Bắc đảo Côn Sơn và cách sân bay Côn Đảo 3 km. Đây là vịnh kín gió, ăn sâu vào trong đất liền, sự kết hợp hài hòa giữa biển và núi bao bọc xung quanh, tạo cho vịnh có nhiều cảnh quan thơ mộng, huyền bí, phong cảnh hữu tình và môi trường trong lành.

Bảo tàng Côn Đảo

Được khởi công xây dựng từ tháng 12/2009, bảo tàng Côn Đảo với tổng kinh phí trên 62 tỷ đồng, là công trình đầy ý nghĩa và là nơi gìn giữ các giá trị lịch sử, minh chứng cho thời kỳ bi tráng nhưng cũng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

Với gần 2.000 tư liệu, các hiện vật được trưng bày theo 4 chủ đề lớn gồm phản ánh các tội ác của chế độ thực dân và đế quốc; về tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của các chiến sỹ cách mạng và những người yêu nước Việt Nam trong suốt 113 năm; về sự phát triển của Côn Đảo ngày nay cũng như việc phát huy giá trị khu di tích lịch sử Côn Đảo như một di sản của dân tộc, giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Chùa Núi Một

Chùa Núi Một (Vân Sơn Tự) tọa lạc trên Núi Một được xây dựng vào năm 1964. Trải qua thời gian đã bị xuống cấp, chùa đã được khởi công tôn tạo ngày 13/8/2010, khánh thành vào ngày 4/12/2011. Do nằm trên núi nên chùa có tầm nhìn bao quát xuống biển, nhìn xuống toàn cảnh thị trấn Côn Đảo và vịnh Côn Sơn, hồ An Hải.

CÁC MÓN NGON Ở CÔN ĐẢO

  • Cháo hàu

Cháo hàu là món ăn du khách thường truyền tai nhau nhất định phải thử khi đến Vũng Tàu nói chung và Côn Đảo nói riêng.

Nguyên liệu chính của một bát cháo hàu là gạo ngon, hạt tròn mẩy, thêm một chút gạo nếp để tạo độ đặc và sánh. Hàu tươi được đánh bắt từ biển, sau đó làm sạch, tẩm ướp gia vị và xào qua cho ngấm. Khi cháo chín, người nấu đổ hàu đã xào vào rồi nêm gia vị cho vừa ăn.

  • Ốc vú nàng

Loài ốc mang tên này bởi hình dáng giống với đôi gò bồng đảo của phụ nữ, đây là một trong những món ăn hấp dẫn nhất từ tên gọi cho đến hương vị. Ốc vú nàng có hình chóp nhọn thẳng, với thịt bên trong ốc trắng nõn và đầy đặn.

Ốc vú nàng dù được chế biến bằng cách nướng, luộc, xào hay làm gỏi… cũng đều hấp dẫn. Tuy nhiên theo nhiều du khách, ngon nhất vẫn là ốc vú nàng nướng mỡ hành. Đây là đặc sản nổi tiếng của Côn Đảo nên ở bất cứ nhà hàng nào bạn cũng có thể thưởng thức.

  • Cua mặt trăng

Cua mặt trăng là một loại cua có hình dáng kỳ lạ, trên lưng có nhiều đốm đỏ mà đậm pha màu hồng tươi. Nếu nhìn kỹ và biết liên tưởng, bạn sẽ thấy nó cũng gần giống với mặt trăng, có lẽ cũng chính vì vậy mà người ta đặt cho nó cái tên này.

Cách chế biến phổ biến nhất là luộc hay hấp chín, khi đó thịt cua chấm với muối tiêu chanh thực sự rất tuyệt. Tuy nhiên cũng có rất nhiều cách chế biến khác nhau và hấp dẫn cũng không kém như làm lẩu, nấu canh, nấu bún hay dùng thịt cho vào bánh canh. Mỗi cách chế biến đều đem lại những hương vị độc đáo riêng biệt, thơm ngon, ngọt ngào hơn bởi hương vị vốn dĩ đã rất đặc biệt của loài cua này.

  • Mắm nhum

Đây được mệnh danh là loại mắm quý tộc, bởi để đánh bắt và làm ra được một hũ mắm nhum chất lượng đòi hỏi sự tỉ mỉ, kỳ công. Dưới triều Nguyễn, mắm nhum còn là một trong những lễ vật dâng lên triều đình hàng năm.

Mắm nhum được dùng để chấm các món luộc hay bánh tráng cuộn. Khi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt nhum, thêm chút vị mắm mòi của biển, chua chua, bùi béo thú vị.

  • Tôm hùm đỏ

Tôm hùm đỏ còn có tên gọi khác là tôm hùm lửa bởi màu đỏ sậm rất đặc trưng của loài tôm vùng này. Tôm hùm đỏ Côn Đảo không to nhưng thịt cua rất dai, ngọt và săn chắc.

Thịt tôm hùm không chỉ ngon, mà ở dọc sống lưng và đầu của nó còn có một lớp gạch tôm rất giàu dinh dưỡng, mỗi khi mùa đông tới lớp gạch này còn dày hơn. Tôm hùm đỏ có thể chế biến thành rất nhiều món khác nhau như sushi, hấp, gỏi, nướng hay làm cháo.

  • Sá sùng

Sá sùng là một trong những loại hải sản quý hiếm bởi rất khó đánh bắt và chỉ xuất hiện nhiều vào đầu tháng 3 cho đến tháng 7 hàng năm. Đến với Côn Đảo, bạn nhất định không thể bỏ qua món đặc sản này.

Sá sùng cũng có thể được chế biến thành nhiều món khác nhau như xào rau, nấu cháo, canh, nướng vàng, chiên giòn, làm gỏi… nhưng được ưa chuộng nhất là sá sùng nướng chấm tương ớt. Sá sùng vừa giòn, dai dai, béo bùi lại còn là món ăn rất bổ dưỡng.

  • Cá mú đỏ

Cá mú đỏ là một trong những đặc sản của Côn Đảo không thể bỏ qua. Có tên gọi khác là cá song và là loại cá được ưa chuộng nhất trong các loại các biển ở Côn Đảo với những thớ thịt dai ngọt và rất thơm, thường được chế biến thành các món sốt, nướng và gỏi rất hấp dẫn.

Cá mú hoa

 Dịch vụ ở Côn Đảo còn phụ thuộc nhiều vào các chuyến hàng cung cấp của đất liền nên còn khá đắt đỏ và hạn chế nhất là các hoạt động vui chơi về đêm. Do đó, bạn nên chuẩn bị tâm lý rằng đây là chuyến nghỉ ngơi và khám phá một hòn đảo còn rất hoang sơ, dịch vụ chưa đầy đủ như đất liền. 
 Bạn nên chuẩn bị giày cao cổ nếu muốn vào rừng khám phá, thuốc chống dị ứng, các loại thuốc cá nhân hay dùng, một số đồ ăn liền do buổi tối rất khó kiếm đồ ăn 
 Có một cách tiết kiệm hơn cho du khách là tự mình ra cầu cảng vào tầm 6h00 sáng hoặc 2h00 chiều, giờ tàu về để mua hải sản tươi rói giá rất rẻ. Hải sản tươi có thể mang về khách sạn nhờ họ chế biến. 
 Nếu muốn ăn cơm bụi, bạn có thể tới khu vực chợ Côn Đảo. 

Với không khí Côn Đảo thì ở homestay là thích hợp quá rồi, nó có gì đó riêng tư cũng như thú vị vậy. Bạn hãy liên hệ đặt chỗ trước đề phòng overbook mùa du lịch nhé. Agoda là một lựa chọn phù hợp bởi họ chọn lọc những đối tác uy tín, họ minh bạch khi đặt phòng & sẽ bảo vệ bạn trong trường hợp xấu xảy ra khi bạn đến nơi ở mà không vừa ý. Hoặc lựa chọn thứ hai cho bạn có thể là Mytourcác hình thức thanh toán ở Mytour có đơn giản hơn Agoda.

Từ Vũng Tàu đi Côn Đảo bạn có thể lựa chọn 3 cách đi. Cách thứ nhất là đi tàu khách truyền thống xuất phát từ cảng Cát Lở Vũng Tàu( nhược điểm thời gian hành trình khá dài, khoảng 12h ) Cách thứ hai là di chuyển khoảng 3h 30 phút với tàu cao tốc Côn Đảo Express . Cách thứ ba bạn có thể lựa chọn đó là máy bay lên thẳng, xuất phát từ sân bay Vũng Tàu.

Như ở lời mở đầu của bài viết tôi đã nói, Côn Đảo thực sự là nơi mà chúng ta nên đến một lần trong đời. Không những nó là thiên đường nơi địa ngục trần gian mà nó còn có một giá trị lịch sử với nhiều ý nghĩa sâu sắc nhất là trong bối cảnh nhiều thế lực thù địch bôi nhọ xuyên tạc hình ảnh Võ Thị Sáu.

Dù sao thì lịch sử vẫn là lịch sử, không ai có thể tô vẽ lên lịch sử ngoại trừ chính là lịch sử. Giống như câu chuyện của tôi đã trải qua hơn 10 năm về trước. Côn Đảo – Thiên đường nơi địa ngục trần gian.

Chạm tay hái mặt trời

Đôi khi, chỉ là đôi khi thôi nhé, muốn chạm tay hái mặt trời. Muốn tất bật những ngày vui, muốn chiêm bao những ngày buồn. Mặt trời có khi nào cạn lời thế gian?

Mặt trời là kẻ cô đơn nhất đời. Băng qua tối tăm vượt qua hỗn mang, thân phận nó được lập trình hoàn hảo bởi nguồn năng lượng của chính nó, vỡ òa những màu xanh trên mặt đất này, nóng bỏng những sinh sôi ở vạn vật này. Vậy nhưng loài người yêu thương nó, muốn ngắm nhìn nó thì cũng phải đợi lúc nó hấp hối sau những núi đồi hay khi nó bắt đầu manh nha tái sinh trên những mênh mang vô cực.

Có những ngày nhức nhối gió mưa, loài người muốn tìm kiếm nó để yêu thương an ủi, để chia sẻ những tanh hôi nhơ nhớp bùn lầy, để ấp ủ hi vọng sự choàng tỉnh tinh cầu. Nhưng nó biệt tăm biệt tích trong những thế lực chớp giật mưa giông. Nên, nó là kẻ chỉ có thể cho đi mà không thể nào nhận lại. Đó là bi kịch mặt trời, bi kịch của ánh sáng.

Đừng bao giờ tin rằng ở đời người ta chỉ cần cho đi chứ không cần nhận lại. Nói không cần nhận lại là một sự giả tạo bác học. Mặt trời cũng thế, nó chẳng bao giờ muốn cô đơn và hơn tất thảy ai ai cũng ước thà là một thứ bình thường để sòng phẳng yêu thương còn hơn là một thứ chói chang chủ nợ cô độc. Tôi nợ mặt trời một cuộc đời, bạn nợ mặt trời một nhân sinh, dương gian nợ mặt trời một bầu sinh khí. 

Một ngày, nhiều ngày, trăm vạn ngàn ngày mặt trời cày xới thế giới này, nuôi nấng thể xác, ban ơn minh bạch, tặng thưởng hào quang, định đoạt hưởng dương, dẫn truyền nhiệt huyết. Kẻ thù truyền kiếp duy nhất của mặt trời là hồn ma, đừng bao giờ nghĩ hồn ma dật dờ, hồn ma luôn vội vàng, vội vàng như thứ cà rồng run rẩy thối rữa chạm bình minh. Cho nên những kẻ tối tăm thường nỗ nực và biết quý trọng thời gian hơn là đám người minh bạch. Bởi vậy đôi khi, thường khi, nhiều nhiều khi sự minh bạch chết một cách bất đắc kỳ tử, ánh sáng trở lại thì cũng chỉ phơi bày thêm một nghịch lý, đó là: bóng tối hồn ma đã nhiều lần bóp cổ quang minh, bức tử ánh sáng.

Mặt trời cứu thế, mặt trời cứ nô bộc trong cái vòng quẩn quanh sinh tử, nó cần cù tô vẽ màu xanh, nó vươn vai khấp khởi hình hài, nó miệt mài bao tường chắn lũy. Nhưng đôi khi, lại là đôi khi chỉ một đêm thôi loài sâu vô danh đã nuốt chửng đền đài, đã cạn kiệt mầm nhựa, đã nham nhở thiên thanh, đã tanh bành thế cuộc. Chạm tay hái mặt trời để treo ngược bóng đêm, chạm tay hái mặt trời để mang về làm thuốc chế bùa trừ yêu.

Cứ nghĩ, cứ tưởng, cứ thản nhiên rằng mặt trời là chủ nợ, là một kẻ luôn ban ơn, bố thí niềm vui, sự an lạc và ánh sáng đến thế giới này. Nhưng thực tình mặt trời lại cũng là một con nợ chúa. Bởi nó yêu thương thế giới này nên nó phải đa mang, đã yêu thì phải làm cho kẻ được yêu hạnh phúc. Cho nên mặt trời muôn đời cuồng nhiệt, giả sử nó không xuất hiện đều đặn như một nhịp sinh học thì nhân gian lấy ai đếm ngày tính tháng, làm gì còn sinh tử, làm gì còn cát bụi. Thế nên mặt trời biết mình mắc tội, mắc nợ với đời. Muốn thoát khỏi chữ nợ xin hãy ngừng yêu thương.

Một buổi tà dương, tôi lang thang trên những phố đời tẻ nhạt, bỗng thấy mình như một đứa thiếu dương khí. Thời gian nhợt nhạt trên những đôi môi cười, bóng tối bon chen trong những ánh mắt người. Dửng dưng cụp mi. Tôi cũng nhận ra sự cô đơn của mình, sự cô đơn mà biết bao những người cô đơn từng cô đơn như tôi.

Những sắc màu thẫm đỏ mà loài người thường gọi là hoàng hôn đang dìm những tinh khôi và luồn lách hòng bóp cổ dòng thủy triều đang dâng đầy ở đâu đó. Chỉ khi thiếu yêu thương con người ta mới thấy cô đơn, chỉ khi thiếu yêu thương vạn vật mới cảm giác hụt hẫng dương khí. Tôi mê man nhoài vào không gian, những tưởng chạm tay hái mặt trời. Mặt trời của tôi, mặt trời của bạn và của bao người đang yêu thương bạn. Đừng bao giờ ngừng yêu…

Thời của tản văn

0

Không khó để thấy, chừng mươi năm trở lại đây, các đầu sách được dán nhãn tản văn, tạp văn, tạp bút…, gần như ra đời liên tục ở hầu hết các nhà xuất bản trong nước. Cho dù nghi lễ đặt tên có vẻ không thật thống nhất và dứt khoát, nhưng tựu trung, các cuốn sách ấy, với dung lượng vừa phải, đều thành hình sau khi các bài viết trong đó, ngày này qua tháng khác, đã xuất hiện trên nhiều mặt báo. Thành danh và thành công nhờ loại sách này, rất nhiều cây bút đã dồn tâm sức để bám riết một thể loại mà, nói sòng phẳng, nổi trội lên nhờ vào cả sự chấp thuận dễ dãi của độc giả.

Đánh nhỏ thắng lớn

Sẽ không sợ sai khi nói rằng tản văn đã được nuôi dưỡng và rất nhiều khi, bị thao túng bởi các trang báo. Mở một trang báo bất kì, không kể truyện ngắn và thơ là hai món thất thường xuất hiện, thì các đoạn viết nhỏ, bằng bao diêm trở đi, với muôn kiểu nội dung và cách viết khác nhau, trường kì neo chặt đến thành mục hẳn hoi. Người ta thấy ở chúng, hoặc là hồi ức kỉ niệm của cá nhân, hoặc vì chuyện thế thời mà lạm bàn, cũng không chừa cả chuyện quốc gia đại sự được thu vào vài nghĩ ngợi thoáng qua. Đọc để thư giãn, giết thì giờ nhưng cũng có thể đọc để tri nhận thêm, dù ít ỏi, những thông tin về một món ăn, một lễ hội, một phố xá, một chuyến ngao du, hay một nhân vật, một vùng địa-văn hóa nào đó.

Hơn cả thái độ chiều chuộng của một cửa hàng bách hóa, tản văn bày biện tất thảy các loại gia vị, từ vui vẻ, bông đùa, giễu cợt đến nghiêm ngắn, thiết tha, “tải đạo” và không hiếm trường hợp là lảm nhảm trữ tình. Chính vì khả năng phục vụ nhanh và khéo léo cho mọi đối tượng mà tản văn, trong thời đại không thật dư dả thời gian đọc, đã hút vào đó một lượng công chúng rộng rãi, đa dạng thành phần và trong số này, có hẳn những lớp độc giả trung thành. Đáng chú ý hơn, các lá phiếu dành cho tản văn vẫn còn nguyên nồng nhiệt, vì sau khi đọc tản văn trên báo, lập tức chuyển sang mua sách tản văn.

Người độc giả hiểu rõ thực tế này không ai hơn Nguyễn Việt Hà, một “đại gia” tản văn, khi thừa nhận “ngày hôm nay, số người mua và đọc tạp văn thường đông hơn hẳn số người mua và đọc tiểu thuyết” 1. Thực tế này “nên lo hay mừng” chưa vội bàn nhưng ít nhất, nó khẳng định tản văn đã thắng lớn trên một thị trường văn học mà văn học dịch/văn học nước ngoài đang chiếm thế thượng phong và đi sâu trong hầu hết các cuộc đọc bài bản, kĩ lưỡng.

Tính chất đánh nhỏ thắng lớn của tản văn hẳn còn phải kể đến số lượng các cây bút ồ ạt tham gia thâm canh thể loại này. Hầu như không vắng ai, kể cả những tác giả đã mặc nhiên gắn với truyện ngắn, tiểu thuyết hay thơ. Một số bước hẳn vào đường chạy và lập kì tích như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý với tư cách là tác giả của những cuốn tản văn thuộc dạng best-seller bất ngờ: Gáy người thì lạnh, Yêu người ngóng núi, Tự nhiên như người Hà Nội, Con giai phố cổ… Một số tạt ngang nhưng cũng gây ấn tượng như Đỗ Bích Thúy với Trên căn gác áp mái, Đến độ hoa vàng; Thụy Anh với 100 gờ-ram hạnh phúc; Việt Linh với Năm phút với ga xép; Cao Huy Thuần với Chuyện trò; Sợi tơ nhện. Một số tỏ ra gặp duyên rồi nhất định lựa chọn như Nguyễn Vĩnh Nguyên với Tivi, xe máy, nhạc chế, chày cối, karaoke, tăm xỉa răng và những thứ khác; Những đồ vật trò chuyện cùng chúng ta; Với Đà Lạt, ai cũng là lữ khách; Trần Nhã Thụy với Cuộc đời vui quá không buồn được; Triều cường, chân ngắn và rau sạch; Trang Hạ với Đàn bà ba mươi, Nắm tay và làm tình; Hoàng Hồng-Minh với Lòng người mênh mang… Có tác giả vừa đến và đang muốn dừng lại khá lâu như Đỗ Phấn với Hà Nội thì không có tuyết, Ngồi lê đôi mách với Hà Nội, Nguyễn Ngọc Tiến với Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội. Có tác giả đến muộn nhưng lập tức độc sáng như Y Phương với Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm. Có tác giả từ bút danh đến tên thật đều sắc sảo và đa sự như Thảo Hảo-Phan Thị Vàng Anh. Trường hợp Nguyễn Quang Lập với Ký ức vụn lại là ngoại lệ thú vị khi những bài viết trong đó vốn gây sóng dư luận trước tiên ở môi trường internet. Và giờ đây, khi mạng xã hội được cá nhân hóa tối đa thì viết tản văn đã là thói quen của nhiều “nhà”, từ nhà toán học, nhà tâm lí, nhà giáo đến thậm chí, các nhà “cải cách xã hội” tự phong.

Gạt bỏ quyền tự do được viết, hay viết chỉ để thỏa mãn tiếng nói riêng tư, thì cơn cớ sâu xa cho hiện tượng cùng phấp phới khẩu hiệu tản văn lại rất gần với trắng phớ tính toán, là chỉ để mưu sinhngon lành hơn và không ít lần, trong số các nhà tản văn chuyên nghiệp cũng có vài bỉnh bút phải tự “đình công đòi tăng lương” như Nguyễn Việt Hà ví von 2 . Nhu cầu “kiếm ăn xoàng” mà Tản Đà, người cũng từng giữ một mục tạp văn trên Đông Dương tạp chí cách đây trăm năm, khởi xướng từ chỗ còn tương đối dè dặt giờ đây đã thành “động lực sáng tạo” của nhiều cây bút. Nói vậy để thấy, sự hăm hở viết tản văn trong một bối cảnh văn học còn bị “úm” thường xuyên bởi đồng tiền bát gạo sẽ nhắc nhở cho ai đó đừng tưởng bở vào sự phát triển lành mạnh tự thân của tản văn. Thời của tản văn cũng là thời mà nhà văn tự xoay xở thích nghi mạnh mẽ nhất với sự rộng hẹp trong hầu bao của độc giả thay vì, quan trọng hơn, là sự cân đo đong đếm các vùng thẩm mĩ tiếp nhận mơ hồ khó nhận biết.

Tuy vậy, sự nở rộ của tản văn, theo tôi, chỉ đáng kể khi chúng ta buộc phải thật lòng thừa nhận về tinh thần dân chủ của các thể loại văn học. Một giai đoạn dài trước đây, bởi những quán tính văn nghệ đường lối, giới cầm bút nước ta ưa thích triển khai những câu chuyện lớn, và kéo theo đó, trong văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn và cùng lắm, bút kí/tùy bút mới được xếp chiếu, được đầu tư lao động. Những mô hình viết khác, như thư từ, nhật kí, tự truyện, hồi kí…, bị phớt lờ và chịu không ít dị nghị. Thói quen đánh giá thiên về giá trị phản ánh hiện thực cuộc sống lớn lao trong tác phẩm đã lảng tránh những tản mạn cảm xúc, suy nghĩ rời rạc, vụn/vặt và hết sức riêng tư. Tản văn với đặc trưng ngắn, gọn, “tiểu tự sự”, tự do tùy hứng của mình cũng chịu chung mặc cảm bị lép vế trên sân chơi của các thể loại lớn.

Nhưng bởi sự đảo chiều trong thời đại thông tin, nơi cái nhanh gọn, dễ nắm bắt, dễ triển khai là qui tắc hàng đầu của mọi kênh phát và nhận, nên tản văn có cơ hội giành lấy vị thế mới. Vì thế, đã đến lúc coi những cuộc chơi nhỏ, vừa tầm đón đợi và mặt khác, linh động bước vào thị trường văn chương, cũng là một nỗ lực xây dựng giá trị. Thừa nhận sức mạnh của tản văn đồng nghĩa với việc các thể loại ngồi chung một cách bình đẳng, các cách thức viết được hưởng quyền lợi “ông kễnh” như nhau. Không cần quá nắm chắc các diễn biến của văn chương nước nhà vài chục năm gần đây thì người ta cũng hiểu, để một thể loại như tản văn lọt vào giải thưởng văn chương tầm quốc gia là sự xa xỉ. Tuy nhiên, khi sách tản văn ngự khắp nơi thì văn đàn đương nhiên sinh động hơn và các chỗ trống thể loại sẽ được lấp đầy không ngớt. Mỗi thể loại có một nghĩa lí của nó. Và tản văn, trong thời này, dù có vẻ nhộn nhạo nhưng chẳng phải đang lĩnh ấn trận tiền đó sao?

Đánh hay thắng đẹp

Thoạt nhìn, viết tản văn dễ đến mức như là công việc xảy ra trong lúc nhàn rỗi, trong lúc chờ đợi cái gọi là “tác phẩm lớn” của người viết. Trên thực tế, không hiếm những cuốn tản văn đã làm chật và chướng giá sách bởi sự xông xáo quá đà của giới xuất bản. Xin nói ngay rằng, với tôi, việc đọc những tản văn chỉ quanh quẩn ở nhớ nhung kỉ niệm hoặc lật trang nào cũng vấp phải vài màn than nghèo kể khổ và được kịch tính hóa bằng cách đổ lỗi cho số phận là việc bất đắc dĩ. Thông thường, tôi, và tôi nghĩ nhiều độc giả khác, cũng sẽ kín đáo thở dài, đẩy chúng sang một bên. Tản văn, vì bị coi là thức quà ăn nhanh, cũng rặt bóng dáng nhiều đầu bếp vụng về.

Muốn nâng tản văn như là một lao động thể loại, theo tôi, vẫn cứ phải kí kết với những cây bút thuần thục kinh nghiệm. Ở đó, một tản văn hay bao giờ cũng nảy lên một giọng điệu, lớp ngôn ngữ riêng, một ý tưởng và chủ kiến cá nhân, một quan sát và tái hiện độc đáo. Một tản văn hay sẽ biết ra đòn hấp dẫn và dừng lại đúng lúc, khi người đọc đến lúc phải đón con, phải tranh thủ làm ca ba, phải gặp gỡ và kí kết hoặc nhọc nhằn hơn, phải nuốt trôi những tin tức thời sự nhàm chán. Tôi thuộc dạng chuồn sớm nếu bắt gặp những mớ bùng nhùng tâm tư ơi hời không biết từ đâu mà đổ ra vô tội vạ của người viết. Tản văn và tản văn hay khác xa nhiều lắm.

Tạm dừng lại chốc lát ở những tác giả có sách tản văn bán chạy để lẩy ra những ngón nghề viết lách của họ. Không ai át được Nguyễn Việt Hà trong cái giọng điệu hài hước, đùa giễu tinh tế, trong cái cách nhà văn chủ ý đảo trật tự từ (thường tính từ đứng trước danh từ), hay khả năng tạo tích mới dựa trên tích cũ và phóng đại những kết luận. Tản văn Nguyễn Việt Hà tái lặp chiêu trò dụng từ điển, dụng các điển phạm văn chương và hiện đại hóa nó qua các so sánh tạt ngang mới mẻ trong cái nhìn hôm nay. Một sự nhất quán đến kì tài ở tản văn Nguyễn Việt Hà, từ Nhà văn thì chơi với ai, Mặt của đàn ông, Đàn bà uống rượu đến Con giai phố cổ, là trước sau đều xem đi lật lại muôn vẻ bản sắc của hai giới đàn ông – đàn bà, khởi sinh của mọi sự, trong một đời sống đô thị tưởng chừng rắc rối, phức tạp. Dĩ nhiên, thái độ nhất quán đó không chỉ được tỉa ra từ kinh nghiệm cá nhân mà còn phải được xây từ vốn tri thức sách vở nhất định. Nguyễn Việt Hà đọc sách để đẻ ra sách, rất khác với một số cây bút trẻ hơn, viết tản văn là để khoe sách mình đọc, tuy hồn nhiên nhưng kém tỉnh táo vì đã không giả định rằng luôn có người đọc thông minh.

Ở trường hợp Nguyễn Trương Quý, tuy cũng dựa vào tư liệu để khảo cứu nhưng tản văn của anh không sa đà kiến thức mà nghiêng về thông tin mới, bình luận dí dỏm như ở Xe máy tiếu ngạo hay Còn ai hát về Hà Nội. Những cuốn tản văn khác của anh, Hà Nội là Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon và mới đây nhất, Mỗi góc phố một người đang sống, đuổi theo khám phá Hà Nội, không phải để ném những viên sỏi vào đề tài đã chật bóng tiền nhân, mà để tìm thêm những vòng sóng mang dư vị mới. Tản văn hay không hề đơn giản.

Ở phương Nam, Nguyễn Ngọc Tư luôn chứng tỏ mình là người gây khó cho độc giả nếu muốn nhớ hết số lượng tản văn của chị. Cảnh sắc và đời sống sông nước miền Tây ăn lẹm vào từng câu chuyện, với ngôn ngữ và nhân vật được địa phương hóa cao độ. Tôi cũng thấy trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư một thứ chủ nghĩa cảm thương mà nếu tiết chế được, nó đánh động nhân tâm, còn lạm dụng quá, nó như một thứ tráng miệng ngậy mùi. Là thương hiệu của văn đàn và là nhà văn kiểu Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư chắc không thể hãm lại ở thể tản văn đang ăn nên làm ra của chị.

Phan Thị Vàng Anh, ngược lại, tản văn phần lớn đều viết ra để lạm bàn thế sự, thậm chí là “gây sự”. Duy trì nhãn quan sắc sảo trong phân tích, chất vấn, bình luận muôn mặt đời sống nhân sinh thường ngày khiến tản văn của chị khá gần tính cách trực chiến, tiểu phẩm báo chí. Người đọc nhớ tản văn Phan Thị Vàng Anh là nhớ những mảng miếng bắt mạch, chẩn bệnh vừa tức tốc vừa chính xác các trạng huống nhếch nhác, dớ dẩn và phi lí của xã hội mà ta đang sống.

Nói tản văn là phi hư cấu một phần vì mức độ khảo cứu được tán ra trong đó. Nhờ thao tác khảo cứu, nhiều tản văn trở thoát khỏi sự dùng dằng quá lâu trong hồi ức, tâm tình cá nhân để trình hiện những hiểu biết, mô tả khách quan về đối tượng quan tâm. Phẩm chất này đòi hỏi người viết tự mình tiến thêm một bước trong việc lựa chọn đề tài, nội dung mà bản thân am tường nhất. Tản văn không nên là con quay búa xua mùa nào thức ấy mà là những phi tiêu cắm sâu vào vốn văn hóa, tri thức đang tích lũy. Theo chiều hướng đó, nhiều tản văn có thể là những mô tả dân tộc chí như Tháng giêng, tháng giêng một vòng dao quắm của Y Phương khi ông, một người trong cuộc, đã diễn giải rõ hơn các phong tục, văn hóa Tày và từ đó, trao tặng cơ hội thông hiểu tộc người này cho độc giả. Khả năng mô tả, khảo cứu Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến cũng là một dạng lập hồ sơ văn hóa, lịch sử đáng lưu tâm. Thậm chí, với Bát phố, Nguyễn Bảo Sinh còn lược thuật những “lịch sử nhỏ” về Hà Nội mà giới sử quan phương thường bỏ qua.

Đến đây, tản văn, tản văn hay, đã chứng thực là một thể loại khó viết chứ không phải là cuốn lịch để ghi vội vài dòng tản mạn tùy thời tiết, tâm trạng. Khi viết tản văn với tâm thế và đòi hỏi của một người khảo cứu, nghiên cứu, thì những lúc cần phải “răn đời”, giáo huấn, giọng điệu cũng trở nên thủ thỉ, tâm tình, kiểu chuyện trò như Cao Huy Thuần đã lịch lãm thể hiện.

Ngược lại với đòi hỏi trên, những tản văn chỉ đáp ứng được điều kiện “hãy viết nhanh hơn nữa” của báo chí sẽ bị lãng quên chóng vánh. Càng đánh nhanh thì nguy cơ mất hút càng lớn. Như tiểu thuyết hay truyện ngắn, tản văn không hiếm những cây bút trắng tay hết sức lãng xẹt. Với một thời đoạn văn chương chẳng bảo hiểm điều gì ngoài sự đỏng đảnh của chính nó thì cao trào tản văn hôm nay rất có thể sẽ lắng xuống khi độc giả chai dần các món đặc sắc, còn các cây bút tản văn có nghề thì dần “gác kiếm”, các “sao mai” mọc nhanh không kiểm soát. Một thể loại gặp thời không có nghĩa là trường thọ. Với tản văn như chúng ta đang thấy, lại càng như thế.

Đọc: Tản văn hay

—————————————————

Chú thích:

1, 2: Nguyễn Việt Hà (2013), Con giai phố cổ, NXB Trẻ, tr.72-76 & tr.254

Nguồn: Tia Sáng

Nắng Trưa

0
Ảnh: Trần Đình Hùng

Vội vàng gì mà không nắng trưa. Nắng ngả vàng chân rạ. Nắng xanh lên mây trời. Nắng bủa vây những tiếng gà xa vắng. Nắng trưa xao xác chạnh lòng đời muối.

Không hiểu sao tôi luôn có cảm giác buổi trưa là lúc con người và thiên nhiên có một mối giao cảm kỳ lạ, người ta dễ buồn vào giấc trưa, người ta dễ vui vào giấc trưa, buổi trưa là bầu bạn, con người ta dễ dàng trút bỏ ưu tư vào sự vắng vẻ đến vô thường.

Cả một cuộc đời có biết bao nhiêu buổi trưa bình thường như thế? Nhưng giấc mơ về một trưa hè chẳng thể nào hoàn hảo nếu như không có nắng gọi nhớ thương trên mái bếp, ven triền đê, buông hờ trên những dòng sông chín đỏ và hổn hển no căng một cánh buồm.

Với tôi nắng trưa như một người nhạc trưởng đồng quê cứ lướt đi mê mải mà vi vu sáo diều, lại có lúc như một họa sỹ tài ba mà trình diễn sắp đặt với những mảng màu sáng tối thần kỳ. Ai bảo nắng trưa không có một linh hồn?

Cứ thử nghĩ mà xem, nếu trên đường đời có lúc nào đó ẩn náu tâm hồn mình dưới một Mái đình tha phương thì đó sẽ không phải là một sớm mai, một chiều tà mà sẽ là những giấc trưa đầy vắng, đầy nắng, đầy những khắc khoải dâng đầy như khi bạn lơ đãng mà rót tràn ly nước. Không bối rối sao được. Nắng trưa mà, ấy là lúc bộn bề quê hương đang lục lọi cõi lòng.

Có lẽ bởi vậy nắng trưa thường khơi gợi những hoài niệm, những xích xiềng ẩn ức, những dấu chân người đi, những vạt tóc kẻ về. Nắng chen vào nhớ, nắng xém vào thương, nắng hát câu ca dao, nắng đẩy đưa cánh võng, nắng hanh vàng quê hương, nắng ngổn ngang lòng mẹ. Đố ai nhớ nổi nắng có bao nhiêu chuyện buồn, nắng có bao nhiêu niềm vui và trưa nào là trưa cắc cớ.

Ảnh: Tô Mạnh

Có những lúc tôi chang chang trở về bé thơ, nắng sao mà im vắng thế, nắng sao mà bồng bột vậy, nắng giấu vào trưa bao gian díu tơ trời. Tôi thổi vào khát vọng, tôi uống một đam mê, tôi xanh chín những nẻo đường, đâu ai biết, người nào hay, chỉ có nắng trưa lặng thinh đồng lõa.

Nếu nắng trưa của bạn là một giấc nghỉ ngơi an lành thì nắng trưa còn đó bao kiếp mưu sinh trải mình trong ngõ vắng, trên phố quen, rong ruổi những con đường, những cánh đồng như một khúc nợ đời mà không lời ca thán.

Mỗi một ngày nắng lên đến đỉnh trời, buổi trưa thầm thì bỏng rát tôi tôi lại khát khô đáy mắt nhìn về phía tuổi thơ sắc màu. Quê nội tôi nghèo. Những trưa nắng bỏng như hòn than hồng trong bếp lửa của bà, cánh đồng muối quê tôi trắng sắc như lưỡi dao bén thép. Khi thấy bác tôi vác cái bồ cào đi ra đồng muối, tôi nói một câu bâng quơ: nắng quá…bác tôi quay lại nụ cười đen nhẻm: phải nắng, không nắng thì muối nó khóc. Lúc đó tôi nghĩ muối là một đứa khó chiều, người ta phải nâng niu muối, dỗ dành muối, thờ phụng muối.

Quả vậy tôi đã từng nghe câu chuyện anh tôi thồ muối đi bán, giữa buổi trưa hè chết nhọc khi leo lên hết một con dốc phải đổ bớt muối đi vì không còn đủ sức để thồ. Chao ơi là nắng! Chao ơi là muối. Nắng trưa xót vào da thịt mà không trầy nổi một vết thương cơ cực.
Tháng 5 cứa ngọt vào hẻm trời, nắng từ đó mà bung ra vạm vỡ. Quỳnh Thuận – Quỳnh Lưu lâu nay vẫn được biết đến với nhiều cánh đồng muối nhất ở Nghệ An lại chang chang những nụ cười trưa vắng, những nụ cười cướp nắng, những nụ cười như muối chát đắng đầu lưỡi mà mà ngấm ngầm ngọt thơm ngọt thảo thẳm sâu đời muối.

Ảnh: Tuấn Hà

Diêm dân Quỳnh Lưu tự bao đời yêu hạt muối như yêu chính thân phận mình, những cánh đồng khô rang ban trưa sắc lẹm những tinh thể muối, những tinh thể gió, những tinh thể đồng quê, những tinh thể của nắng. Cho dù đời muối bao phen bạc bẽo người sinh ra nó, cơ cực vì nó. Người ta bưng bát cơm lên mà nhớ nắng, nhớ gió, nhớ những mùa hè chênh chang cánh đồng.

Tháng 5 cũng là tháng mặt trời sinh sôi trên những ô ruộng muối quê nghèo. Những buổi trưa mặt trời soi gương ruộng muối, những xế chiều mặt trời ngã vào ruộng muối, còn diêm dân ngã linh hồn vào những đụn muối cứ vun cao lên, cao đến đâu thì cũng nhỏ nhoi như những núi đồi vất vả đời mình.

Tôi ngẩn người khi chợt nghĩ đến một thứ tinh thể mồ hôi. Tinh thể của mồ hôi cũng là muối. Những tinh thể mồ hôi làm đau những nắng trưa bỏng rát, những hình hài như hơi khói bốc lên và nhòa đi trên những cánh đồng muối đẹp như một lời nguyện lành.

Nắng trưa, những cánh đồng muối ở Quỳnh Thuận – Quỳnh lưu như những ảo ảnh nhiều chiều trong không gian cứ lấp loáng niềm vui, như một sân khấu lớn mà người nghệ sỹ sử dụng tối đa hiệu ứng khúc xạ. Người ta phải căng mắt giữa đồng muối, nếu nheo mày nhíu mắt thì con tim sẽ đau, những con tim đời muối.

Mấy ngày nay, cư dân mạng, những cô thanh cậu tú, những người trẻ đã quá nhàm chán với dư thừa phố thị lại ồn ào trào lưu check in sống ảo trên những cánh đồng muối quê nghèo. Tôi lại nhớ ngày còn nhỏ mỗi kỳ nghỉ hè háo hức về quê. Nhớ lời bác tôi bảo: chán phố thì cứ về đây ở với bác, về bác cho đi làm muối. Bác tôi nói rồi cười ha hả, phô diễn hàm răng cũng trắng như đời muối.

Ảnh: Nguyễn Hải

Vậy đấy, nắng trưa không ồn ào, nắng trưa không bép xép, nắng trưa ngủ gật giữa tuổi thơ tôi. Tôi đã mơ về đâu, về đâu…nơi ấy có vạt hoa mười giờ biển nắng bung muối lên trời mà vẫn mọng xanh cành lá, vẫn tím nghẹn tím ngào những khuy áo xinh xinh.
Thật đấy, phải nắng, phải nắng, phải nắng táp lửa, phải gió hun trời, phải bốc khói canh trưa không thì muối sẽ khóc. Muối là một đứa khó ưa, muối là một kẻ khó chiều, cho nên muối mặn. Đừng hỏi vì sao muối mặn. Có nước mắt của anh tôi trên những nẻo đường cút kít dăm trăm một ngàn.

Buồn cười nhỉ, nắng trưa lại luôn gắn liền giấc mộng mưu sinh. Bởi vậy mà nắng trưa là bức tranh mà đất trời vẽ lên muôn ngàn sâu lắng, ở đó chỉ có sự lặng im. Ai bảo lam lũ không đẹp? Những cô thanh cậu tú, những người trẻ khát khao sống ảo. Những người ngọt ngào về check in trên những cánh đồng muối quê tôi, có ai trả lời?

Dẫu vậy nắng trưa với tôi là bằng hữu, nó giúp ký ức của tôi không bị ẩm mục không bị mối mọt, không bị hôi hám mỗi khi nhớ về ngày muối, nhớ về đời muối. Ở đâu còn nắng nơi đó còn muối. Ở đâu còn muối nơi đó còn nhớ. Ở đâu còn nhớ nơi ấy còn tình yêu.
Có một tiếng gà xé thủng ban trưa sẽ làm bạn bàng hoàng. Bạn đang ở đâu, quá khứ hay hiện tại, tương lai hay chỉ là tầng tầng lớp lớp tâm tưởng. Tôi bảo này, hãy nhắm mắt lại để nắng trưa vỗ về, để nghe muối hát trên những cánh đồng gương soi.

Thú thật tôi là một đứa bội bạc, bởi từ khi lớn lên, xa quê hương, xa cái vị mặn đồng chát nội, chúi đầu vào vào bao vòng quẩn quanh gạo tiền, cơm áo, hư danh tôi đã bỏ quên nắng trưa đồng muối quê nhà. Ấy vậy mà khi chợt nhớ để lần tìm về những kỷ niệm thì chúng vẫn y nguyên, thơm tho như nắng mát lành như gió, muối lại ngọt ầu ngọt ơ khúc ru bỏng khát cơn hè.

Ai cựa mình trong gió, ai len lỏi sông hồ, ai thơm vào cây cỏ, ai u minh sáng tối, còn tôi, tôi muốn tan vào nắng được không? Nắng trưa đó. Tôi không muốn muối khóc… bởi trong máu thịt tôi có hình hài đời muối.

Giấc mơ của gió

0

Tôi mải miết đi tìm giấc mơ của gió, một đời tôi, nhiều đời ai. Tôi vươn vai hát lời của sóng một đời tôi vạn đời ai. Tôi thênh thang đi tìm khát khao của biển để nghe gió thầm thì ngày xưa.

Biển mênh mông biển chẳng vô bờ
Con sóng nhỏ vu vơ đời phiêu lãng
Dã tràng đa mang xe cát vào vô hạn
Cánh buồm mơ tìm mãi bến thời gian

Đó là bốn câu thơ tôi cảm thán trong một chiều thơ bé, lang thang dọc triền đê, con đê biển vạm vỡ bao bọc lấy quê tôi Thụy Trường – Thái Thụy – Thái Bình. Buổi chiều hôm ấy, giống như bao buổi chiều hoa mắm, hoa vẹt chan chát ngọt ngọt mời gọi bầy ong, nhìn ngọn thủy triều len lỏi dâng đầy trong những con lạch luồn lách ra phía khơi xa, tôi hình dung về một cánh buồm mà thủy tổ của tôi đã căng từ làng Quỳnh – Nghệ An để đến nơi đây gửi gắm ước mơ. Tôi gọi đó là giấc mơ của gió.

Giấc mơ của gió, đời người ai không một lần gửi những khát khao. Biết bao nhiêu câu hỏi cứ mông lung nhảy nhót trong trí não ngây thơ của một đứa trẻ: phía xa kia là gì, đằng sau những con sóng, đằng sau những cánh buồm, đằng sau những cơn gió, làm thế nào để vượt những đại dương… Mỗi một ngày giấc mơ về đại dương, về những bờ bến xa mờ cứ xanh thẳm hiện hữu và lớn dần trong tôi và nó trở thành thứ tôn giáo của riêng tôi mà tự khi nào tôi không nhận ra.

Mùa hè năm ấy tôi được đi chơi trên một chuyến tàu của gia đình, con tàu xuất phát từ cảng Hải Phòng và cảng đích là Cam Ranh – Khánh Hòa. Ra khỏi luồng Hải Phòng tàu bắt đầu bươn mình vào Vịnh Bắc Bộ, bờ bến sau lưng nhạt dần, lần đầu tiên con mắt tôi được thỏa thê nỗi niềm vô cực. Vịnh Bắc Bộ vào thời điểm ấy với tôi đã là một đại dương đầu đời cho tôi hình dung và cảm nhận được câu mà nhiều người đi biển từng nói: ra đến biển con tàu cũng chỉ như chiếc lá tre mà thôi…

Thuyền viên trên chuyến tàu buổi ấy ai cũng nói với tôi rằng số tôi đỏ, đi biển đúng vào dịp biển không còn thể êm hơn, lại đúng vào mùa trăng. Buổi chiều lịm dần trên vịnh, con tàu bình thản như đang trườn trên một đĩa thạch màu xanh khổng lồ, mặt trời ngẩn ngơ nhấp nhổm rồi giấu đi chút hào quang cuối ngày vào thâm cung thủy tận. Tôi như một chú ếch xanh bợt da thiếu nắng thiếu gió một ngày bỗng nhảy ra khỏi chiếc giếng sâu đời mình, cuộc sống ngoài kia còn có cả mặt trăng tròn hơn và trong hơn cái vòm giếng bấy lâu tôi ngồi. Vành trăng hôm ấy chẳng phải là một thứ ánh sáng dối lừa đã dẫn dụ tôi vào dạo chơi cuộc đời. Cuộc dạo chơi ấy có tên giấc mơ của gió.

Tôi đã từng nghe nói về hải đăng nhưng thú thật chưa thể hình dung cảm giác khi nhìn thấy hải đăng từ phía biển nó ra sao. Đêm ấy, qua một cơn mưa, trăng trốn vào trò chơi thị giác, biển tối đen và ẩm ướt, bầu trời thêm một lần nữa đẩy tôi vào những bí mật. Khi chúng tôi vừa bắt được tín hiệu: ” Đà Nẵng radio gọi các đài tàu…” cũng là lúc tôi thấy le lói hải đăng mũi Sơn Trà. Quả thật lúc đó tâm trạng của tôi khác hẳn tâm trạng của một người nhìn thấy ánh hải đăng từ phía đất liền, dường như ngọn đèn biển mà tôi đang thao thức đã có một linh hồn. Sau này sau này và sau này cùng biết bao nhiêu trải nghiệm những tuyến đường trên biển, đi qua biết bao những chớp sáng linh hồn, nhưng mỗi lần tôi đều có những tâm trạng khác biệt. Tôi gọi nó là mắt biển.

Qua chuyến đi biển ấy, giấc mơ của gió, hình dung về thủy tổ của tôi một ngày đã vượt sóng làng Quỳnh để ra khơi cứ nhen nhóm và thôi thúc tôi về một ước mong thủy thủ. Tôi cần phải làm gì đó, tôi cần phải đi xa hơn, tôi muốn ngắm nhìn thế giới này bằng con mắt của chính mình chứ không phải là con mắt của người khác. Nhưng để làm được điều đó thì phải là kỹ sư điều khiển tàu biển, phải theo học đại học hàng hải, trong khi tôi lại học khoa quốc tế học trường đại học khoa học xã hội và nhân văn. Quả là một sự thật trớ trêu. May mắn thay, mấy năm sau tôi đã có đủ điều kiện và tiêu chuẩn của một người đi biển chuyên nghiệp, với bằng cấp và những chứng chỉ quốc tế giúp tôi có thể làm việc trên những con tàu lớn và đến bất kỳ một hải cảng nào trên thế giới. ” Không có mảnh đất nào xa lạ. Chỉ có kẻ lữ hành là người lạ” – Robert Louis Stevenson. Tôi luôn tâm niệm điều đó.

Có hai bài hát về biển về thủy thủ đã ảnh hưởng rất lớn tới sự trưởng thành và nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Ấy là Tâm tình người thủy thủ của nhạc sỹ Hoàng VânXa khơi của nhạc sỹ Nguyễn Tài Tuệ. Có nhiều hải trình đằng đẵng sóng gió và hiểm nguy hay ở những phương trời xa lạ, nỗi cô đơn làm cho tôi thấy mình trở nên bé nhỏ, khi ấy cây guitar luôn mang theo bên mình vỗ về bầu bạn:

“… Nhổ neo ra khơi, anh biết rằng dẫu ở cuối trời
Dù có những hòn đảo thần tiên đầy châu báu
Hay có người thiếu nữ với đôi môi hồng như san hô
Cũng không thể làm anh xa được em yêu
Nhưng em ơi, nếu có chàng trai chưa từng qua sóng gió
Nếu có chàng trai chưa từng vượt qua nhiều thử thách gian lao
Có lẽ nào xứng với tình em.”

Eo biển Malacca, nơi tôi đã nhiều lần đi qua.

Hay có những kỳ nghỉ trở về nhà, biển và vô vàn sắc màu lại dập dềnh trong nỗi nhớ, tôi lại như một người cuồng chân ngứa cẳng, chỉ muốn bật dậy đi ngay, âm hưởng Xa khơi của Nguyễn Tài Tuệ làm trái tim tôi muốn vỡ:

“Nắng tỏa chiều nay
Chiều tỏa nắng đôi bờ anh ơi
Gió lộng buồm mây ươm chân trời
Biển lặng sóng thuyền em dong khơi
Khoan giọng hò thương anh cách vời
Kìa biển rộng con nục, con măng
Lướt sóng liền đôi bờ tung tăng
Con chuồn còn bay nơi nơi
Con giang chiều gọi bạn đường khơi
Nắng tỏa chiều nay
Thuyền về mái động chiều nay
Nhìn phương Nam con nước vơi đầy thương nhớ
Nhớ thương anh ơi …”

Duyên nợ với Nghệ An như một thứ tình thân mến thương cứ đeo đẳng vấn vít lấy cuộc đời tôi. Chuyến đi biển quốc tế đầu tiên của tôi xuất phát từ cảng Hải Phòng nhưng lại ghé qua cảng Cửa Lò để tiếp nhiên liệu. Khi tàu rời cảng, rời đất mẹ yêu thương tôi hăm hở như một cánh buồm ngoan gió và tất nhiên hình ảnh tổ tôi trong tâm can dòng tộc lại bừng sáng trở về. Khát vọng ra khơi và giấc mơ của gió…

Luồng vào cảng Bangkok – Thailand

Cảm xúc cần phải luôn mới mẻ, nếu cảm xúc không tìm đến thì hãy nghĩ cách để gọi mời nó đến. Cuộc sống của một người thủy thủ đã tự vinh danh nó với những cung bậc cảm xúc, đi và đi, đến và đến, tâm hồn bạn như những dòng hải lưu mà hồng cầu nuôi dưỡng nó là khao khát và đam mê. Tôi đã dừng chân ở bao nơi, đã đi qua bao con đường vô danh, ai mà nhớ được chỉ biết rằng tôi là một người giàu có.

Biết bao kỷ niệm rối rít hoan hỷ ùa về, băng qua Malacca, buổi chiều réo rắt, đàn cá voi bày tiệc ở Vịnh Bengal, chúng chổng mông nhào lộn rồi phun những cột nước thân thiện lên bầu trời phóng khoáng. Lại nhớ những ngày nhạt mồm nhạt miệng, đi mua rượu ở xứ sở Hồi Giáo len lén lun lút, môi môi giới giới như kẻ tội đồ tìm cái chết trắng ở Việt Nam. Có những buổi dừng chân ở Kemaman, cả thủy thủ đoàn cùng nhau đi săn chó hoang, lên núi đào giềng dại hái lá mơ hoang mang về bày biện quốc túy quốc hồn.

Sau này trong những chập chờn mộng mị yêu thương, con giang chiều gọi bạn, con nục con măng tung tăng, tôi lại thấy mình đè sóng cưỡi gió lướt đi trong thủy triều đỏ. Cánh buồm của tổ tông lại vẫy gọi, tôi nghênh ngang nổi chìm, tôi săn đuổi mặt trời, tôi tìm kiếm hải đăng, tôi lặn lội vào gió, vào sóng, vào những đam mê đời mình. Tôi mải miết đi tìm giấc mơ của gió, một đời tôi, nhiều đời ai. Tôi vươn vai hát lời của sóng một đời tôi vạn đời ai. Tôi thênh thang đi tìm khát khao của biển để nghe gió thầm thì ngày mai.

- Advertisement -