Một thủa Chiêm thành

0
1090

…Người xưa đâu? Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu. Lầu các đâu? Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu…Lời bài hát như một tiếng vạc kêu sương đưa tôi về một thủa Chiêm thành…

Người Chăm là một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử, có nền văn hóa phát triển, và là hậu duệ của các cư dân nền văn hóa Sa Huỳnh thời kì đồ sắt. Ở Việt Nam người Chăm có mối liên hệ gần gũi với các dân tộc nói các tiếng cùng thuộc ngữ tộc Malay-Polynesia như Gia Rai, Ê Đê, Ra Glai và Chu Ru.

Người Chăm được xác định là cư dân bản địa ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam và đã có quá trình định cư lâu đời ở khu vực này. Trải qua hàng ngàn năm, dưới những biến cố lịch sử, xã hội mà chủ yếu là do chiến tranh và mẫu thuẫn nội bộ, người Chăm không còn cư trú tập trung ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ mà phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số các quốc gia khác. Tất cả những ghi chép trên cho chúng ta lại nhớ về một thủa Chiêm Thành.

Ông cụ người Chăm. Ảnh: Nguyễn Ngọc Sơn

Văn hóa Chăm một thủa Chiêm thành gắn liền với bao thăng trầm cùng những dấu tích thời gian không thể xóa nhòa. Nằm cách thành phố Phan Rang gần 10km về phía nam, ngay trên đường quốc lộ 1A, làng gốm Bàu Trúc ở thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Bàu Trúc là làng gốm cổ nhất Đông Nam Á, nổi tiếng với sản phẩm gốm thủ công và kỹ thuật nung gốm độc đáo, gốm Bàu Trúc được ngợi ca như một sản phẩm “ấm bàn tay con người” nhất với đặc trưng riêng mang đậm nét văn hóa Chăm không lẫn với gốm nơi khác.

Bàu Trúc là địa danh nổi tiếng với sản phẩm gốm Chăm, thứ gốm lạ lùng chỉ nung bằng lửa rơm, chẳng cần lò, chẳng cần men, lạ hơn là toàn do phụ nữ nặn vuốt bằng cách đi giật lùi quanh bàn nặn chứ không dùng bàn xoay. Tưởng đã tuyệt duyệt nhưng với sự giao thương và bùng nổ của kinh tế mà khách du lịch, giới nghệ sĩ, các chủ nhà hàng… bỗng nhận ra vẻ đẹp độc đáo, mà từ đó ghé thăm, đặt hàng, giữ lại được cái tên Gốm Bàu Trúc.

Cũng như ở nhiều địa phương khác ở miền Trung và Nam, người Chăm Ninh Thuận theo chế độ mẫu hệ, vì thế không phải là điều lạ lùng khi thấy những đàn ông Chăm bế con để vợ làm lụng việc nặng. Dạo chơi trong làng Bàu Trúc thú vị ở cảnh xem nặn gốm, ngắm nghía mẫu mã lạ lùng của các loại bình, lọ, đồ mỹ nghệ, nhưng hơi bất tiện ở chỗ gốm là thứ cồng kềnh, dễ vỡ, nhìn món nào cũng thích song thật khó chọn được một món mang về làm kỷ niệm. Một thủa Chiêm thành lại hiện về trong từng thớ đất đường men.

Em bé ở làng gốm Bàu Trúc. Ảnh: Lê Nhật Quang

Làng gốm truyền thống Chăm Bàu Trúc là làng nghề cổ xưa đã tồn tại và phát triển hơn 7 thế kỷ từ khi ông bà PôKlông Chang đưa người Chăm từ trên vùng đồi núi về đồng bằng sinh sống. Đặc biệt, đây là nơi lưu giữ nhiều nét đặc sắc hiếm có trong nghệ thuật làm gốm của người Chămpa xưa. Chính vì thế mà làng đã trở thành làng nghề cổ nhất Đông Nam Á nổi tiếng với những sản phẩm gốm thủ công tuyệt hảo.

Cho đến ngày nay, người Chăm tại làng gốm Bàu Trúc vẫn tự nhận mình là con cháu của Pô Klông Chang – một quan cận thần của vua Chăm Pô Klong Giarai (1151 – 1205). Họ kể rằng, chính ngài là người đã đưa người dân di chuyển từ vùng đồi núi đến tại cánh đồng “Hamu Trok” để sinh sống và dạy cho người Chăm tại đây lấy đất sét tại các bờ sông, con suối để làm ra gốm. Không những vậy, vợ chồng PôKlông Chang còn dạy cho dân làng cách trồng trọt, đánh bắt và buôn bán để người dân thoát khỏi cảnh đói khổ, nghèo nàn.

Buổi chiều ở Bàu Trúc. Ảnh: Dương Tường

Sau khi về sinh sống tại vùng đất mới, người Chăm tại vùng đồng bằng “Hamu Trok” đã phát triển nghề làm gốm ngày một phát triển hưng thịnh, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.

Vào năm 1832 thời kỳ vua Minh Mạng, theo biến cố lịch sử, tên gọi Paley Hamu Trok đã được đổi thành tiếng Việt là Vĩnh Thuận. Tên gọi này chính thức trở thành một bộ phận trực thuộc nhiều hành chính khác nhau, có lúc thuộc phủ, đạo, huyện, thị trấn.

Năm 1954 (chấm dứt thời Pháp thuộc) thôn Vĩnh Thuận có lúc thuộc phủ Bình Thuận, Phủ Ninh Thuận, đạo Phan Rang. Thời Mỹ – Ngụy (1954 – 1975). Bắt đầu từ đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, nền hành chính có sự thay đổi thì thôn Vĩnh Thuận lại thuộc xã Phước Hậu (Phước Hữu), quận An Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975, một trận lụt lớn xảy ra năm 1964 (Giáp Thìn) đã cuốn đi nhà cửa, trâu bò của người Chăm nơi đây. Vì thế, họ đã di dời làng về nơi cao ráo hơn – nơi có nhiều cây trúc cạnh một cái ao khá lớn nên gọi là Bàu Trúc (trong tiếng Chăm, Bàu có nghĩa là ao – hồ). Từ đây, tên gọi Bàu Trúc được sử dụng và mặc định trong việc nhấn mạnh về một làng nghề nổi tiếng của người Chăm tại đồng bằng.

Sau khi thống nhất đất nước (1975) theo chủ trương của Đảng – Nhà nước vào năm 1976 hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận sáp nhập thành một tỉnh Thuận Hải thì Bàu Trúc vẫn giữ nguyên tên gọi hành chính là thôn Vĩnh Thuận nhưng lại thuộc một huyện khác – huyện An Sơn.

Đến năm 1992 tỉnh Thuận Hải lại được chia tách thành hai tỉnh như cũ là Ninh Thuận và Bình Thuận. Từ đó đến nay, địa danh hành chính thôn Vĩnh Thuận được đổi thành “Khu phố 7”, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận.

Dựa theo quá trình hình thành và phát triển của làng gốm Bàu Trúc. Ta dễ dàng thấy được sự thay đổi đa dạng và phức tạp như bao làng Chăm khác ở Ninh thuận. Tuy nhiên, điều đặc biệt là họ còn lưu giữ rõ nét trong tục cúng tế tổ tiên dòng núi (atâu cơk) và dòng biển (atâu tathik). Với điều này, đã nói lên sự liên quan đến người Chăm tại xứ Panduragan – Champa cổ xưa từng định cư ở đồng bằng làm lúa nước.

Để làm nên sản phẩm gốm Bàu Trúc, theo nghệ nhân Đàng Thị Phan- người đã đưa gốm Bàu Trúc đến tận Nhật Bản, Mỹ, Pháp cho biết, nguyên liệu làm gốm là đất sét mịn, có độ dẻo cao được làm sạch, nếu chỉ lẫn một chút cát thô hoặc ít sạn, bẩn thì sản phẩm sau khi nung sẽ bị nứt, hỏng hoàn toàn. Đất sét lấy về được đập nhuyễn, ngâm nước, sau đó là công đoạn nhồi đất. Nhồi đất là khâu quan trọng nhất, phải nhồi thật kỹ, nếu không, khi nung, sản phẩm sẽ bị nổ. Đất được nhồi kỹ rồi có thể để dùng vài ngày, cần làm gốm chỉ cần tưới nước vào là được.

Người phụ nữ Chăm ở Bàu Trúc làm gốm không dùng bàn xoay. Người ta gọi kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc bằng cái tên rất dân dã “làm bằng tay xoay bằng mông”. Đất được đặt lên một cột đá tròn gọi là trụ, người phụ nữ cứ đều đều bước chân quanh cột đá. Qua bàn tay khéo léo của mình, những khối đất biến thành lọ hoa, bình nước, thành khương… Nhìn thì rất đơn giản, nhưng không được học, được rèn thì không ai làm được.

Nghệ nhân gốm Bàu Trúc

Trước đây, dân Bàu Trúc sống nhờ nghề gốm. Con gái trong làng lớn lên 12,13 tuổi đã biết nhào đất, nặn gốm… thiếu nữ về nhà chồng phải biết nung gốm, nấu cơm, nấu nước bằng nồi đất nung do chính tay mình làm ra. Bây giờ, cả làng chỉ còn vài chục hộ gia đình trên tổng số 400 hộ của làng làm gốm. Sản phẩm cũng chỉ để bán cầm chừng mỗi khi có khách du lịch ghé qua làng. Và dường như cũng chỉ để minh chứng cho người đời sau một thủa Chiêm thành.

Có một người phụ nữ truyền lửa yêu nghề gốm cho con cháu, người dân trong làng và cả du khách, đó là bà Đàng Thị Phan. Lớn lên trong gia đình có 3 đời làm gốm, từ năm 18 tuổi, bà Đàng Thị Phan đã biết nung gốm. Năm nay bước vào tuổi 66 tuổi, bà Phan vẫn thoăn thoắt đi quanh trụ, những khối đất biến hóa thành đủ hình dạng dưới bàn tay bà.

Gia đình bà cũng là điểm đến hấp dẫn nhất làng Bàu Trúc mỗi khi có du khách đến làng. Với tình yêu nghề gốm, bà Phan đã đem cái lạ, cái đặc biệt của gốm Bàu Trúc đi Nhật, đi Mỹ, Pháp, Malaysia… Chia sẻ về niềm tự hào của nghề gốm Bàu Trúc, bà Phan bảo: “Cái độc đáo nhất của nghề là không có bàn xoay. Thực ra, tôi cũng mong có bàn xoay, để làm nghề đỡ cực (vất vả) chứ, nhưng đó mới là điều độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc. Cũng chỉ có đất ở đây mới làm được gốm không có bàn xoay”.

Lần đến Nhật biểu diễn theo chương trình hợp tác văn hóa của nước bạn mời, bà Phan cũng bảo, chỉ có đất ở sông Quao mới làm được gốm mà không cần bàn xoay. “Tôi lấy đất của tôi lên bàn xoay của Nhật thử làm sản phẩm nhưng không được. Rồi tôi lấy đất của Nhật làm thử bằng tay như kỹ thuật của gốm Bàu Trúc thì nó sụp xuống, còn đất của tôi lên được đến 2m. Người Nhật họ ngạc nhiên lắm”.

Nghề làm gốm Chăm Bàu Trúc vừa được Bộ VHTTDL đưa vào danh mục 12 Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia và trình UNESCO xét duyệt, công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Mỗi khi ngắm nhìn những sản phẩm của người Chăm, của làng nghề Bàu Trúc tôi lại như thấy bao dư âm từ ngàn xưa vọng về. Đó không chỉ riêng một thủa Chiêm thành, mà còn là biết bao tinh hoa văn hóa lắng trầm vào đất thanh khiết vào nước mà bền vững men gốm bao đời, từ đó mà lan tỏa mà sức hút đến bộn bề nhân gian…

 

Klook.com